Chúng ta đang xây dựng các chương trình môn học mới và tiến tới có những bộ sách giáo khoa mới để có được một chương trình giáo dục phổ thông mới. Có những công việc không phải chỉ dành cho vài trăm chuyên gia hay tác giả mà việc góp ý là của cả xã hội.

Xin chia sẻ với các bạn bài viết của GS. John Vũ mà bạn đọc của BigSchool đã từng đọc một số bài viết của ông. 

GS. John VũGS. John Vũ

Phần 1

Ngày nay công nghệ thông tin là yếu tố tạo khả năng cốt yếu cho tăng trưởng kinh tế. Sự kiện là công nghệ có thể tạo ra nhiều việc làm hơn bất kì cái gì khác và giữ cho nền kinh tế duy trì tính cạnh tranh. Do đó, công nghệ nên là việc dạy ưu tiên trong mọi chương trình giáo dục đại học.

Câu hỏi thường được hỏi là: “Học sinh cần học cái gì?”

Như đã nhắc tới trong các blog trước đây, học sinh tiểu học cần biết cách dùng máy tính; học sinh trung học phải biết cách dùng máy tính để làm một số công việc, nhưng học sinh đại học cần nhiều hơn. Có khác biệt giữa biết cách dùng máy tính và hiểu khoa học và ứng dụng công nghệ, điều là chủ đề nên được dạy ở đại học.

Câu hỏi khác thường được hỏi là: “Tại sao? Không phải mọi sinh viên đại học đều học khoa học máy tính hay kĩ nghệ? Tại sao sinh viên văn học hay nghệ thuật cần biết về công nghệ?”

Câu trả lời là: MỌI việc làm tương lai sẽ YÊU CẦU dùng công nghệ và mọi sinh viên sẽ CẦN dùng công nghệ trong việc làm của họ, bất kể việc làm là gì, CHO NÊN HỌ PHẢI học về công nghệ ngay BÂY GIỜ.

Có thay đổi lớn trong giáo dục hiện thời nhưng ít người để ý tới điều đó. Trong quá khứ, sinh viên đại học thường được dạy trong “lĩnh vực cô lập” vì lĩnh vực học tập của họ độc lập với phần còn lại. Chẳng hạn, sinh viên khoa học hiếm khi biết cái gì đó về các khu vực khác như doanh nghiệp, hay văn học hay lịch sử. Việc cô lập này tạo ra người tốt nghiệp chuyên môn hoá trong khu vực của họ nhưng có tri thức giới hạn về các khu vực khác. Ngày nay sinh viên đại học cần hiểu rằng tri thức trong một khu vực đặc biệt có thể được áp dụng cho các khu vực khác, và phát kiến là tổ hợp của nhiều lĩnh vực bù lẫn cho nhau hay “Bộ môn chéo.” Chẳng hạn, học sinh ngày nay phải học áp dụng toán học trong tài chính, kế toán, doanh nghiệp, khoa học và công nghệ. Cùng nguyên lí này là hợp thức nơi học sinh có thể áp dụng công nghệ máy tính cho kinh tế, kinh doanh, tài chính và khoa học v.v. Trong “thế giới được kết nối”, nhiều lĩnh vực được tích hợp, và công nghệ là “chất keo” kết nối mọi thứ.

Chẳng hạn, ngày nay các công ti kiến trúc KHÔNG thuê người có thể vẽ bằng tay nữa mà thuê những người có thể dùng máy tính và phần mềm Thiết kế có máy tính trợ giúp (CAD) để làm mọi việc vẽ. Mọi sinh viên kiến trúc đều phải học ít nhất vài lớp máy tính và biết cách dùng CAD trước khi họ có thể tốt nghiệp. Phần lớn các công ti chế tạo đang thuê những người có thể dùng máy tính và phần mềm có tên Chế tạo có máy tính hỗ trợ để thiết kế sản phẩm từ một mô đen đơn giản tới các mạch phức tạp của bảng mạch điện tử. Với công nghệ in 3D, các công ti có thể “in” ra bất kì cái gì họ muốn cho nên họ cần những người biết làm thiết kế và dùng máy 3D. Ngày nay bạn có thể “in” ra nhà, hay ô tô, hay hoa và thậm chí các bộ phận thân thể người thực. Việc dùng công nghệ này đang bành trướng nhanh từ chế tạo sang xây dựng kiến trúc và thậm chí chăm sóc sức khoẻ.

Ngày nay nhiều đại học hàng đầu đã tổ hợp nhiều lĩnh vực vào “bộ môn chéo” những lĩnh vực mới nơi phát kiến có thể được tạo ra. Chẳng hạn, tôi đang dạy tổ hợp của Sinh học và Công nghệ trong một lĩnh vực mới có tên Công nghệ sinh học (Biotechnology). Tôi cũng tổ hợp Khoa học máy tính và Sinh học vào lĩnh vực có tên Sinh tin học (Bioinformatics) hay Sinh học tính toán (Computation Biology). Các giáo sư khác tổ hợp Khoa học máy tính và Thống kê thành lĩnh vực phân tích dữ liệu lớn, v.v. Ngày nay sinh viên đại học phải được dạy rằng một số nguyên tắc nào đó bên trong một khu vực có thể được tổ hợp với các khu vực khác và tổ chức thành khuôn khổ nơi chúng có thể áp dụng và tạo ra những thứ mới. Đó là lí do tại sao trong tương lai gần, sẽ không còn bất kì lĩnh vực cô lập nào mà là tổ hợp của nhiều lĩnh vực thành các lĩnh vực hàn lâm mới.

Trong quá khứ, nhiều sinh viên làm việc theo cách của họ qua trường học bằng ghi nhớ nhiều thông tin trong từng mức lớp. Họ có thể đỗ các bài kiểm tra nhưng họ có thực sự học không? Về căn bản, kiểu dạy này không thúc đẩy tư duy phê phán và hiểu sâu hơn về khái niệm. Nhiều người tốt nghiệp có thể trích dẫn các khái niệm nhưng không biết cách áp dụng chúng để giải quyết các vấn đề hay biết cách thiết kế hay tạo ra sản phẩm từ những khái niệm này. Nhiều người trong số họ trở thành “quan liêu” người ưa thích ngồi thoải mái trong văn phòng và nói về mọi thứ nhưng không thể làm được mấy. Hội tụ vào ghi nhớ và kiểm tra được chuẩn hoá là lỗi thời trong thời đại thông tin này.

Nếu chúng ta có thể thay đổi hệ thống giáo dục hội tụ nhiều hơn vào việc học qua hành nơi học sinh không phải ghi nhớ mà biết cách áp dụng các khái niệm, họ sẽ rời trường với giáo dục giầu có hơn và tốt hơn. Học “sâu hơn” và áp dụng tri thức để giải quyết tình huống thực là nền tảng của hệ thống giáo dục mới hiện đại.

GS. John Vu trong một lần trình bày về Big DataGS. John Vu trong một lần trình bày về Big Data

Phần 2

Có khác biệt trong hệ thống giáo dục truyền thống hội tụ vào ghi nhớ và hệ thống giáo dục mới thúc đẩy “học qua hành”.

Trong hệ thống giáo dục truyền thống, học sinh thường học một mình và ganh đua với học sinh khác trong lớp. Nhưng trong hệ thống giáo dục mới, học sinh phải học để làm việc theo kiểu cộng tác. Trong mọi lớp, họ phải làm việc cùng nhau để nhận diện vấn đề và tạo ra giải pháp như một tổ, không như cá nhân. Tất cả có có chung mục đích: Thành công như một tổ. Tổ thường họp mọi ngày và nhận diện điều họ cần học để đáp ứng mục đích của họ. Là một tổ, họ cũng học trao đổi hiệu quả và tổ hợp nhiều cách nhìn khác nhau để đáp ứng cho mục đích của tổ. Để làm điều đó, họ phải học cách lắng nghe người khác và tôn trọng ý kiến của người khác, cho dù các ý kiến này có thể không cùng là ý kiến của họ. Bằng việc làm điều đó, họ học cách làm việc tổ hiệu quả và kĩ năng cộng tác điều được cần khi họ làm việc trong công nghiệp. Bạn tôi, Giáo sư Gershman thường bắt đầu lớp của ông ấy bằng việc kể cho học sinh: “Trong quá khứ, từng người trong các em là cầu thủ tennis, nhưng trong lớp của thầy, các em tất cả đều là cầu thủ bóng đá.”

Trong hệ thống giáo dục mới, học sinh thu nhận một số tri thức cơ bản từ giáo sư, nhưng họ cũng phải học tìm thông tin phụ theo cách riêng của họ. Chính là qua việc đọc thêm này và tự học, học sinh học sâu hơn và phát triển kĩ năng học cả đời. Bằng việc kéo dài tri thức lõi mà họ học trong lớp qua việc đọc thêm, họ học cách áp dụng tri thức của họ vào tình huống thực và phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề tốt hơn. Cuối cùng, họ sẵn lòng chấp nhận thách thức yêu cầu họ áp dụng tri thức theo cách phi truyền thống. Hoạt động học sâu hơn này yêu cầu học sinh rút ra thông tin từ tri thức hiện thời rồi làm cái gì đó có nghĩa với nó như xử lí thông tin hiệu quả theo cách riêng của họ thay vì theo cách hàn lâm hạn chế suy nghĩ của họ. Qua thời gian, học sinh tiến hoá từ người mới học sang mức chuyên gia bên trong miền tri thức.

Trong hệ thống giáo dục truyền thống, học sinh ghi nhớ sự kiện và dữ liệu để đỗ bài kiểm tra, nhưng thông thường hầu hết học sinh không phát triển năng lực suy nghĩ độc lập để áp dụng lí thuyết vào giải quyết vấn đề. Trong hệ thống giáo dục mới, học sinh học nghiên cứu ở mức sâu hơn để cho họ có thể phân tích vấn đề và áp dụng tri thức riêng của họ vào giải quyết chúng. Học sinh phải học cách dùng công cụ và kĩ thuật đặc biệt cho khu vực rồi phân tích vấn đề một cách logic và phát sinh các giả thuyết để giải quyết chúng. Bằng việc đánh giá, tích hợp và phân tích nhiều nguồn thông tin, họ có thể cải tiến giải pháp của họ để giải quyết vấn đề.

Sách của GS. John Vũ xuất bản ở Việt NamSách của GS. John Vũ xuất bản ở Việt Nam
Trong hệ thống giáo dục mới, học sinh phải học miền rộng các kĩ thuật học hơn nhiều so với việc ghi nhớ lí thuyết truyền thống. Họ phải học chấp nhận trách nhiệm cho việc học riêng của họ, lựa chọn kĩ thuật học đúng, và phán xét những kĩ thuật đó có tác dụng tốt thế nào. Khi họ đương đầu với khó khăn, họ học cách chẩn đoán kiểu khó khăn họ đang đối diện, lựa chọn kĩ thuật thích hợp để giải quyết khó khăn và liên tục tiến lên tới mục đích học tập của họ. Về căn bản, họ học là độc lập hơn trong việc học của họ thay vì phụ thuộc vào ai đó giúp họ. Hệ thống giáo dục mới yêu cầu học sinh tham gia vào trong tự suy nghĩ cần thiết để liên tục học trong cả đời họ. Họ phải đặt mục đích cho từng nhiệm vụ học tập, giám sát tiến bộ của họ hướng tới mục đích, và thích nghi cách tiếp cận của họ như được cần để hoàn thành thành công nhiệm vụ hay giải quyết vấn đề.

Trong hệ thống giáo dục truyền thống, học sinh hội tụ vào việc thi đỗ bài kiểm tra nhưng trong hệ thống giáo dục mới, học sinh chăm nom về chất lượng của việc học của họ và đưa nỗ lực thêm vào làm mọi thứ một cách kĩ càng và tốt. Hệ thống giáo dục mới khuyến khích học sinh phát triển thái độ tích cực và niềm tin về bản thân họ trong quan hệ với công việc hàn lâm. Bằng việc có thái độ tích cực và niềm tin về bản thân họ, học sinh có thể tăng sự kiên nhẫn của họ để tham gia vào trong các hành vi học tập có năng suất. Họ bắt đầu thấy sự liên quan của công việc nhà trường với cuộc sống của họ và tương lai của họ và hiểu họ làm việc chăm chỉ bây giờ sẽ có ích lợi cho họ trong tương lai và điều đó sẽ dẫn họ tới liên tục học và trở thành người học cả đời.

GS. John Vũ.

Ngô Trung Việt (dịch)

BigSchool: Giáo sư John Vũ – Nguyên Phong, là một nhà khoa học nổi tiếng ở Mỹ, đứng trong Top 10 người sáng tạo nhất thế giới (mà đứng đầu là Bill Gates và Steve Jobs). Ông chính là người dịch tác phẩm nổi tiếng Hành trình về Phương Đông, một trong những tác phẩm hay nhất về phương Đông từ trước đến nay. Giáo sư John Vũ cũng là một người rất quan tâm đến khoa học công nghệ, với trên 10.000 bài viết đã được đăng trên blog Science-Tecnology.

Giáo sư John Vũ là một người Mỹ gốc Việt (quê ở Hà Nội, sang Mỹ từ năm 1967) có những đóng góp rất lớn về nghiên cứu khoa học kỹ thuật, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo đối với thế hệ trẻ. Giáo sư John Vu là một nhà khoa học nổi tiếng ở nước Mỹ đứng trong Top 10 những người sáng tạo nhất thế giới, đứng đầu là Bill Gates và Steve Jobs.

Giáo sư John Vũ kiêm Viện Trưởng Viện nghiên cứu phần mềm của Đại học Carnegie Mellon, và là Nghiên cứu viên kĩ thuật và Kĩ sư trưởng Công nghệ Thông tin tại Boeing. Trước khi công tác tại Tập đoàn Boeing, ông John Vũ làm việc tại Teradyne Semiconductor; Hewlett Packard, Litton Industries, Motorola và GTE.

Ông có giữ nhiều chức vụ quan trọng và công trình lớn. Trong 15 năm làm việc ở Boeing, ông đã từng tham gia vào chương trình phần mềm hỗ trợ cho máy bay Boeing 777 và là nhà vô địch về cải tiến qui trình ở Boeing với những kết quả có ý nghĩa. Ông đã đào tạo hơn 10 000 kĩ sư phần mềm; tiến hành trên 100 cuộc thẩm định.

Cuốn sách mà GS. John Vũ dịch và xuất bản ở Việt NamCuốn sách mà GS. John Vũ dịch và xuất bản ở Việt Nam
Ngoài ra, ông được ngành công nghiệp phần mềm thế giới thừa nhận với việc đóng góp thiết lập các trung tâm chất lượng phần mềm ở Ấn Độ, Trung Quốc, Nga, Nam Triều Tiên, Nhật Bản và nhiều nước khác trên thế giới.

Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, Giáo sư John Vũ luôn quan tâm đến thế hệ trẻ – nguồn nhân lực chủ chốt về việc chọn lựa nghề nghiệp và hướng đến những ngành tiềm năng. Giáo sư John Vũ đã viết trên bốn mươi bài báo và xuất bản ba tập sách về phần mềm và các hệ thống thông tin nhằm cung cấp thông tin mới và hướng thế hệ trẻ tiếp cận những công nghệ hiện đại mới nhất. Quyển sách mới nhất của ông về công nghệ phần mềm đã được dịch sang tiếng Trung, tiếng Hàn và hiện đang được sử dụng như sách giáo khoa của một số trường đại học tại đó.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *